Hà Nội thuở khai thiên lập địa
Ngày đăng: 09/06/2010 của Theo: Chinhphu.vn

Đất đai Hà Nội sinh thành gắn liền với sự hình thành miền châu thổ Bắc Bộ - Ảnh sông Hồng
Đất đai Hà Nội sinh thành gắn liền với sự hình thành miền châu thổ Bắc Bộ - quê hương buổi bình minh của dân tộc. Sự hình thành châu thổ là cả quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn biến hóa cảnh quan khác nhau, từ lúc còn là vịnh biển, chuyển qua vùng trũng đầm lầy, rồi mới đến đồng bằng.
Miền võng Hà Nội
Tam giác châu thổ Bắc Bộ có hình cái phễu bổ đôi với bề mặt nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam. Mặt cắt ngang của nó giống như một chiếc võng, vùng trục giữa thấp hơn hai bên rìa. Dạng võng này không chỉ là hình dạng trên bề mặt, mà còn phản ánh dáng dấp của cấu trúc móng tận 30 - 40 km dưới sâu mà ngành địa - vật lý đã xác định được. Bởi vậy, người ta gọi miền trũng châu thổ này là miền võng Hà Nội.
Miền võng Hà Nội là một vùng rất động về mặt địa chất kiến tạo, vì nó nằm trong vùng xung yếu của vỏ Trái đất. Vỏ Trái đất ở đây không những mỏng hơn các nơi khác, mà còn bị những đứt gãy sâu chia cắt. Hinh dáng những đường đứt gãy này giống như những đường khâu liền, nên giới chuyên môn gọi chúng là đường khâu. Ngoài các đứt gãy dọc, còn có nhiều đứt gãy ngang chia cắt miền võng Hà Nội, nên nó có dạng bậc thang - các bậc cao nằm ở phía tây - bắc và các bậc thấp nằm ở phía đông - nam.
Do nằm đúng trên trục của một vùng xung yếu, cho nên lãnh thổ Hà Nội là vùng có cường độ chuyển động lớn của vỏ Trái đất. Tại đây, các hoạt động kiến tạo lớn từng diễn ra mạnh mẽ trong suốt quá trình địa chất từ hàng trăm triệu năm về trước và vẫn còn đang tiếp diễn.
Các đứt gãy sâu sông Hồng, sông Chảy cắt qua Hà Nội là những đường xung yếu đã gây ra những trận động đất mạnh. Biên niên sử đã ghi lại nhiều lần động đất tại Thăng Long: động đất năm 1016; năm 1017, điện Càn Nguyên sụp đổ; năm 1284, đất Thịnh Quang, Xã Đàn nứt toác; giữa những năm kháng chiến chống Nguyên - Mông (1277, 1278, 1285), có nhiều trận động đất mạnh làm cho núi lở, đất nứt, bia đá tháp Báo Thiên gãy làm đôi. Trong thế kỷ XX, Hà Nội nhiều lần xảy ra động đất cấp 6 và hai lần động đất cấp 7. Mặt đất xuất hiện những khe nứt sâu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trùng với hướng sông Hồng và cũng là hướng các đứt gãy sâu trong vỏ Trái đất.
Một điều dễ nhận thấy khi nhìn vào bản đồ dị thường trọng lực vùng Hà Nội, do các nhà địa - vật lý lập, là hình dạng thon, hơi kéo dài và nhô cao của móng cấu trúc sâu miền võng Hà Nội. Chúng giống hình những con rồng đang uốn khúc mềm mại. Đó là những nơi vỏ Trái đất mỏng hơn nơi khác, chỉ dày khoảng 30 - 40 km. Mỗi lần rồng quẫy lưng là một lần động đất. Lưng rồng chính là những đường đồng mức khép kín, biểu hiện những dải dị thường, vì trọng lực đá tăng mạnh do sự xâm nhập của các vật chất nóng chảy dưới vỏ Trái đất.
Vịnh biển Hà Nội
Đầu kỷ Đệ tam, cách nay khoảng 50 triệu năm, ở miền võng Hà Nội, các đứt gãy sâu lại hoạt động mạnh, tạo thành một máng trũng nứt trên nền võng trước đó. Vì vậy, các nhà địa chất gọi đây là máng trũng chồng gối. Các vùng đồi núi hai bên thì lại được nâng cao lên và bị xói mòn. Vật chất trôi theo nước chảy lấp dần vào đường máng, hết lớp này đến lớp khác, dày từ 1.000 đến 2.000m.
Lúc đầu, do vận động sụt lún mạnh mẽ ở máng đi đôi với vận động tạo sơn ở hai bên, vật chất xói mòn mạnh gồm toàn bộ cuội sỏi. Chúng trôi theo dòng nước xuống, tích tụ ở đáy máng. Về sau, vận động yếu dần, các dòng chảy trở nên êm đềm hơn, vì vậy, các lớp trầm tích gồm toàn những hạt nhỏ mịn. Sau nữa là thời kỳ tương đối bình ổn, điều kiện tốt để tích tụ than và dầu mỏ. Có những thời kỳ biển tiến vào đồng bằng, nên người ta gọi là Vịnh Hà Nội hoặc Phá Hà Nội.
Sang kỷ Đệ tứ, ở giai đoạn sớm cách nay khoảng 1 triệu đến 30 vạn năm, biển rút khỏi đồng bằng, đặc biệt ở những nơi có khối nâng lên, trong đó có vùng Hà Nội. Trầm tích lục địa thay thế trầm tích biển, đồng bằng bồi tích hình thành. Hệ thống sông Hồng vận chuyển phù sa bồi đắp lên trên trầm tích biển. Ở góc giữa gờ sông Hồng và gờ sông Đuống, người ta thấy vô số vết tích những dòng sông cổ, chứng tỏ sự phân nhánh rất nhiều của sông Hồng để tạo nên tam giác châu thổ Bắc Bộ. Do đó, trong các lỗ khoan ở vùng trũng, người ta thấy cuội sỏi xen với đất đỏ phủ lên trên trầm tích biển dày tới 150m nằm sâu dưới bề mặt đồng bằng hiện nay khoảng 50m.
Tiếp đến, khoảng 30 vạn năm trước, biển lại tiến, trùm phủ lên đồng bằng, để lại những tầng sét cao lanh, sét cát mịn chứa di tích các sinh vật của vùng biển ven bờ. Trong lỗ khoan ở Gia Lâm (cách sông Hồng 2,5km), trong tầng dày 50m của trầm tích, người ta thấy rõ hai lớp: lớp dưới trầm tích sét nhẹ hơn. Điều đó chứng tỏ rằng, có hai giai đoạn hoạt động của sông Hồng, mỗi giai đoạn đều có bước chuyển tiếp từ lúc sông chảy nhanh dữ dội, khi sỏi cát thô lắng đọng, đến lúc sông chảy tương đối êm đềm với sản phẩm hạt sét mịn lắng đọng. Còn tại lỗ khoan ở Cầu Giấy (trong khu vực Đại học Sư phạm) với độ sâu 48,9m, người ta thấy một lớp cát và bùn dày tới 20m; nói lên khá rõ quá trình hình thành trầm tích giác châu.
Xem xét địa tầng ở các lỗ khoan trên, có thể thấy rõ quy luật: bao giờ cũng có một tầng sỏi cát thô nằm phía dưới - đó là lòng sông cổ; phía trên là những tầng đất có hạt nhỏ dần đến mịn, chứa nhiều chất hữu cơ, đặc trưng cho trầm tích đầm hồ. Trong một cột địa tầng, nhịp trầm tích như trên có thể lặp đi lặp lại, phụ thuộc vào cường độ hoạt động của sông Hồng ở mỗi thời kỳ. Tầng trầm tích hạt mịn chứa sét phổ biến trên bề mặt các bãi bồi nói lên giai đoạn biển tiến cuối cùng cách nay trên 1 vạn năm.
