Hát ca trù Thính phòng
Ngày đăng: 26/04/2010
Trong kinh thành Thăng Long xưa có những thôn chuyên hát ả đào như thôn Giáo Phường, tổng Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên nay là đất cũ quanh phường Bùi Thị Xuân quận Hai Bà Trưng và thôn Dục Lâu), tổng Hữu Túc (sau đổi là Đông Thọ) gồm các phố Lê Lai, Lý Thái Tổ, Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay. Trước khi Hà Nội bị tạm chiếm, còn di tích đền Giáo Phường (sau mới bị chiến tranh phá hủy), thờ Tổ Ca Công, ở quận Đống Đa, hàng năm ca công các phường hát Khâm Thiên, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở... tới dự lễ Tổ tại đền Nam Đồng cũ (trên đất ấp Thái Hà cạnh gò Đống Đa, sau đã bị phá bỏ).
Từ hát cửa đình là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng thể gồm cả ca múa nhạc, tới khoảng đầu thời Nguyễn đã phát triển thành lối hát ca trù thính phòng, phần múa bị tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao.
Ca trù thính phòng đã trở thành một thú chơi tao nhã của giới ca sĩ kinh thành. Từ thế kỷ XIX, ca trù rất được ưa chuộng.
Đi nghe ca trù là để thưởng thức đào nương hát những bài thơ hay của cổ nhân hoặc của chính mình soạn ra theo làn điệu cố định. Đào nương ngồi hát, hai tay gõ phách, kép đệm đàn đáy. Cái trống chầu nhỏ được quan viên (khán giả) điểm "tom chát" khen thưởng giọng hay, văn khéo, đàn ngọt...
Những điệu chính thường đùng trong hát ca trù lúc này là thét nhạc, ngâm vọng, bắc phản, nhịp ba cung bắc, gửi thư, đọc thơ, hãm... Những bài thơ hay như Tì bà hành, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú... là những bài ca đặc sắc và đầu đề bài thơ đã trở thành tên một điệu hát.
Trong hát ca trù thì hát nói là một thể nhạc phổ thơ độc đáo, có thể coi là cột trụ của hát ca trù. Hát nói có cấu trúc phóng khoáng với thể thơ lục bát và thất ngôn. Thường hát mưỡu trước hát nói. Mưỡu do chữ "mạo" là trùm trên mình - dù là mưỡu đầu hay mưỡu hậu (sau hát nói) cũng đều phổ theo thơ lục bát.
![]() |
| Biểu diễn ca trù. Ảnh: vietnamnet.vn |
Số lượng bài hát nói lưu truyền trong giới ca trù rất lớn, trong đó có nhiều bài khuyết danh. Những tác giả về thơ hát nói đều là những thi nhân nổi tiếng ở Hà thành như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Quý Tân, Chu Mạnh Trinh, Phan Văn Ái, Nguyễn Thượng Hiền... Trong phong trào cứu nước, nhiều nhà cách mạng của Việt Nam Quang Phục hội, Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, đã dùng thể thơ hát nói để tuyên truyền chống Pháp như: Trần Đông Phong. Nguyễn Ngô Đoan, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tùng Mậu. Phan Bội Châu, Võ Liêm Sơn v.v. Đặc biệt là các chiến sĩ cách mạng như Lê Mạnh Trinh, Xuân Thủy, Nguyễn Ngọc Tính, Nguyễn Văn Sở... đã phát huy lối hát nói để tuyên truyền, và có lúc từ trong lao tù đã đặt nhiều bài hát nói động viên giác ngộ quần chúng.
Nghệ thuật hát ca trù hết sức phức tạp, đòi hỏi đào hát phải luôn luôn luyện giọng cho tròn vành rõ chữ. Hát phải sao cho đài các, lịch sự, thắm thiết, tài tình, tâm sự. Nhả chữ sao cho bất chợt, buông câu bắt chênh, bắt tròn... Sử dụng hơi trong là chủ yếu, rung giọng ngâm với một phong thái vừa kín đáo vừa đoan trang.
Luyện được hát đã khó, luyện được những khổ phách cho lưu loát sinh động phải mất rất nhiều công phu rèn luyện. Đào hát không cần dùng điệu bộ, mà chỉ qua tiếng phách lẫn câu hát để biểu lộ hết tình cảm của mình, không chỉ truyền đạt lại nội dung bài thơ mà còn gửi gắm cả tâm sự riêng khi cất tiếng hát.
Người hát đã tinh vi như vậy, còn nghệ thuật của người cầm trống chầu ra sao? Ở đây không còn là chiếc trống cái, mà là chiếc trống nhỏ xinh hơn chiếc trống đế chèo. Tiếng trống khảo, vang, âm tiếng và nặng. Dùi trống (roi chầu) bằng thứ gỗ dẻo và cứng, cầm vừa tầm tay. Cầm trống chầu không chỉ là một thính giả hưởng thụ đơn thuần mà phải có một trình độ thẩm mỹ về văn thơ (có khi chính là tác giả bài thơ), có kiến thức về ca nhạc, và phải tế nhị, nhạy cảm. Tiếng "cắc" ra tang (còn gọi là chát) với những tên rất đẹp như thùy châu, lạc nhạn, hạ mã... cùng với tiếng lên: "mặt" trống lúc bịt lúc buông tiếng tom cùng lối đánh phi nhạn, thượng mã... Người cầm trống chầu vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa được hưởng thụ vừa cùng biểu diễn. Sự giao lưu tình cảm giữa người ca, nhạc, cầm chầu và thính giả khăng khít không thể tách rời, tạo thành một khối thống nhất hơn bất kỳ loại hát dân tộc nào khác.
Cây đàn đáy duy nhất nối liền giọng hát với phách, ăn ý mật thiết với tiếng tom chát của trống chầu, âm thanh phát ra vừa cứng vừa mềm dưới những ngón gảy hoặc rung cùng ba cách nhấn, nhún, lăn. Tiếng hát hòa lẫn tiếng đàn như rồng ẩn hiện trong mây, mà tiếng đàn bao giờ cũng giữ vai trò khiêm tốn nhằm nâng bổng tiếng hát.
Với mối liên quan truyền cảm và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau giữa ca, nhạc và trống chầu, nghệ thuật ca trù càng ngày càng điêu luyện tinh vi sánh đôi với những tác phẩm văn thơ tuyệt vời đã được ngâm ca. Những làn điệu dân gian trước kia còn mộc mạc thôn dã đã được trau chuốt điêu luyện, góp vào vốn dân gian - bác học kinh kỳ. Vì vậy, đối tượng thưởng thức cũng có phần chọn lọc, hạn chế hơn. Càng ngày hát ca trù càng bị thu hẹp vào trong phòng, đào hát, kép đàn và quan viên đều quen thuộc, trở thành một thứ thưởng thức nghệ thuật riêng biệt với không khí ấm cúng tế nhị hào hoa kinh kỳ. Không chỉ riêng ở nội thành mà cả ở các thị trấn ven nội cũng vậy: các nhà hát riêng lẻ tiếp tục mở để đón quan viên tới dự "chầu hát" hàng tối đã thành phong khí của một thời.
Từ chỗ hành nghề không chuyên với giáo phường, tới lúc ca trù là nghề chính trong các nhà hát, dào kép đã trở thành chuyên nghiệp và chia thành những trường phái khác nhau. Phái hát theo lề lối khuôn khép tề chỉnh; phái đông hơn theo phong cách hàng huê, hát chậm rãi, nhấn nhá từng câu một và chải chuốt bay bướm phóng khoáng.
Ở nội thành, khi các nhà hát phát triển từ Hàng Giấy xuống Vạn Thái, Khâm Thiên, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở... và tại các thị trấn ven nội, số người thưởng thức ca trù không chỉ toàn tao nhân mặc khách và quan viên hào hoa phong nhã kinh kỳ mà đã trở nên phức tạp hơn.
Tại Hà Nội cũ trước đây, mặc dù bị đế quốc phong kiến xuyên tạc ý nghĩa đúng đắn của ca trù, đồng thời khuyến khích những thói đồi bại truỵ lạc sau chầu hát, nhưng những nghệ nhân ca trù chân chính vẫn giữ được phong cách lề lối truyền thống xưa, bảo vệ vốn nghệ thuật cổ truyền độc đáo của dân tộc.
Ngày nay, vào các dịp vui chung hàng năm, tại Văn Miếu, đền Ngọc Sơn, các "chầu hát ca trù" lại mở tưng bừng, vang lên những điệu "ngâm thơ ca trù" với những lời ca ngợi đất nước tươi đẹp, ca ngợi con người mới, cuộc sống mới.
Theo Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long Đông Đô Hà Nội, GS Đinh Gia Khánh,
NXB Hà Nội, 2008, tr303-306
Trong kinh thành Thăng Long xưa có những thôn chuyên hát ả đào như thôn Giáo Phường, tổng Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên nay là đất cũ quanh phường Bùi Thị Xuân quận Hai Bà Trưng và thôn Dục Lâu), tổng Hữu Túc (sau đổi là Đông Thọ) gồm các phố Lê Lai, Lý Thái Tổ, Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay. Trước khi Hà Nội bị tạm chiếm, còn di tích đền Giáo Phường (sau mới bị chiến tranh phá hủy), thờ Tổ Ca Công, ở quận Đống Đa, hàng năm ca công các phường hát Khâm Thiên, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở... tới dự lễ Tổ tại đền Nam Đồng cũ (trên đất ấp Thái Hà cạnh gò Đống Đa, sau đã bị phá bỏ).
Từ hát cửa đình là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng thể gồm cả ca múa nhạc, tới khoảng đầu thời Nguyễn đã phát triển thành lối hát ca trù thính phòng, phần múa bị tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao.
Ca trù thính phòng đã trở thành một thú chơi tao nhã của giới ca sĩ kinh thành. Từ thế kỷ XIX, ca trù rất được ưa chuộng.
Đi nghe ca trù là để thưởng thức đào nương hát những bài thơ hay của cổ nhân hoặc của chính mình soạn ra theo làn điệu cố định. Đào nương ngồi hát, hai tay gõ phách, kép đệm đàn đáy. Cái trống chầu nhỏ được quan viên (khán giả) điểm "tom chát" khen thưởng giọng hay, văn khéo, đàn ngọt...
Những điệu chính thường đùng trong hát ca trù lúc này là thét nhạc, ngâm vọng, bắc phản, nhịp ba cung bắc, gửi thư, đọc thơ, hãm... Những bài thơ hay như Tì bà hành, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú... là những bài ca đặc sắc và đầu đề bài thơ đã trở thành tên một điệu hát.
Trong hát ca trù thì hát nói là một thể nhạc phổ thơ độc đáo, có thể coi là cột trụ của hát ca trù. Hát nói có cấu trúc phóng khoáng với thể thơ lục bát và thất ngôn. Thường hát mưỡu trước hát nói. Mưỡu do chữ "mạo" là trùm trên mình - dù là mưỡu đầu hay mưỡu hậu (sau hát nói) cũng đều phổ theo thơ lục bát.
![]() |
| Biểu diễn ca trù. Ảnh: vietnamnet.vn |
Số lượng bài hát nói lưu truyền trong giới ca trù rất lớn, trong đó có nhiều bài khuyết danh. Những tác giả về thơ hát nói đều là những thi nhân nổi tiếng ở Hà thành như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Quý Tân, Chu Mạnh Trinh, Phan Văn Ái, Nguyễn Thượng Hiền... Trong phong trào cứu nước, nhiều nhà cách mạng của Việt Nam Quang Phục hội, Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, đã dùng thể thơ hát nói để tuyên truyền chống Pháp như: Trần Đông Phong. Nguyễn Ngô Đoan, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tùng Mậu. Phan Bội Châu, Võ Liêm Sơn v.v. Đặc biệt là các chiến sĩ cách mạng như Lê Mạnh Trinh, Xuân Thủy, Nguyễn Ngọc Tính, Nguyễn Văn Sở... đã phát huy lối hát nói để tuyên truyền, và có lúc từ trong lao tù đã đặt nhiều bài hát nói động viên giác ngộ quần chúng.
Nghệ thuật hát ca trù hết sức phức tạp, đòi hỏi đào hát phải luôn luôn luyện giọng cho tròn vành rõ chữ. Hát phải sao cho đài các, lịch sự, thắm thiết, tài tình, tâm sự. Nhả chữ sao cho bất chợt, buông câu bắt chênh, bắt tròn... Sử dụng hơi trong là chủ yếu, rung giọng ngâm với một phong thái vừa kín đáo vừa đoan trang.
Luyện được hát đã khó, luyện được những khổ phách cho lưu loát sinh động phải mất rất nhiều công phu rèn luyện. Đào hát không cần dùng điệu bộ, mà chỉ qua tiếng phách lẫn câu hát để biểu lộ hết tình cảm của mình, không chỉ truyền đạt lại nội dung bài thơ mà còn gửi gắm cả tâm sự riêng khi cất tiếng hát.
Người hát đã tinh vi như vậy, còn nghệ thuật của người cầm trống chầu ra sao? Ở đây không còn là chiếc trống cái, mà là chiếc trống nhỏ xinh hơn chiếc trống đế chèo. Tiếng trống khảo, vang, âm tiếng và nặng. Dùi trống (roi chầu) bằng thứ gỗ dẻo và cứng, cầm vừa tầm tay. Cầm trống chầu không chỉ là một thính giả hưởng thụ đơn thuần mà phải có một trình độ thẩm mỹ về văn thơ (có khi chính là tác giả bài thơ), có kiến thức về ca nhạc, và phải tế nhị, nhạy cảm. Tiếng "cắc" ra tang (còn gọi là chát) với những tên rất đẹp như thùy châu, lạc nhạn, hạ mã... cùng với tiếng lên: "mặt" trống lúc bịt lúc buông tiếng tom cùng lối đánh phi nhạn, thượng mã... Người cầm trống chầu vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa được hưởng thụ vừa cùng biểu diễn. Sự giao lưu tình cảm giữa người ca, nhạc, cầm chầu và thính giả khăng khít không thể tách rời, tạo thành một khối thống nhất hơn bất kỳ loại hát dân tộc nào khác.
Cây đàn đáy duy nhất nối liền giọng hát với phách, ăn ý mật thiết với tiếng tom chát của trống chầu, âm thanh phát ra vừa cứng vừa mềm dưới những ngón gảy hoặc rung cùng ba cách nhấn, nhún, lăn. Tiếng hát hòa lẫn tiếng đàn như rồng ẩn hiện trong mây, mà tiếng đàn bao giờ cũng giữ vai trò khiêm tốn nhằm nâng bổng tiếng hát.
Với mối liên quan truyền cảm và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau giữa ca, nhạc và trống chầu, nghệ thuật ca trù càng ngày càng điêu luyện tinh vi sánh đôi với những tác phẩm văn thơ tuyệt vời đã được ngâm ca. Những làn điệu dân gian trước kia còn mộc mạc thôn dã đã được trau chuốt điêu luyện, góp vào vốn dân gian - bác học kinh kỳ. Vì vậy, đối tượng thưởng thức cũng có phần chọn lọc, hạn chế hơn. Càng ngày hát ca trù càng bị thu hẹp vào trong phòng, đào hát, kép đàn và quan viên đều quen thuộc, trở thành một thứ thưởng thức nghệ thuật riêng biệt với không khí ấm cúng tế nhị hào hoa kinh kỳ. Không chỉ riêng ở nội thành mà cả ở các thị trấn ven nội cũng vậy: các nhà hát riêng lẻ tiếp tục mở để đón quan viên tới dự "chầu hát" hàng tối đã thành phong khí của một thời.
Từ chỗ hành nghề không chuyên với giáo phường, tới lúc ca trù là nghề chính trong các nhà hát, dào kép đã trở thành chuyên nghiệp và chia thành những trường phái khác nhau. Phái hát theo lề lối khuôn khép tề chỉnh; phái đông hơn theo phong cách hàng huê, hát chậm rãi, nhấn nhá từng câu một và chải chuốt bay bướm phóng khoáng.
Ở nội thành, khi các nhà hát phát triển từ Hàng Giấy xuống Vạn Thái, Khâm Thiên, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở... và tại các thị trấn ven nội, số người thưởng thức ca trù không chỉ toàn tao nhân mặc khách và quan viên hào hoa phong nhã kinh kỳ mà đã trở nên phức tạp hơn.
Tại Hà Nội cũ trước đây, mặc dù bị đế quốc phong kiến xuyên tạc ý nghĩa đúng đắn của ca trù, đồng thời khuyến khích những thói đồi bại truỵ lạc sau chầu hát, nhưng những nghệ nhân ca trù chân chính vẫn giữ được phong cách lề lối truyền thống xưa, bảo vệ vốn nghệ thuật cổ truyền độc đáo của dân tộc.
Ngày nay, vào các dịp vui chung hàng năm, tại Văn Miếu, đền Ngọc Sơn, các "chầu hát ca trù" lại mở tưng bừng, vang lên những điệu "ngâm thơ ca trù" với những lời ca ngợi đất nước tươi đẹp, ca ngợi con người mới, cuộc sống mới.

