Từ Thăng Long đến Đông Đô
Ngày đăng: 09/06/2010 của Theo: Chinhphu.vn
Trận đại thắng Bạch Đằng ngày 9/4/1288 kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ ba. Đúng 1 năm sau, Vua Trần Nhân Tông tổ chức lễ định công ban thưởng cho các tướng lĩnh theo thứ tự cao thấp khác nhau. Việc xong, có người vẫn còn thắc mắc vì chức tước chưa cao. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông thấy thế, mới dụ rằng:
“Nếu các khanh biết chắc là giặc không vào cướp nữa thì nói cho Trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm Trẫm cũng không tiếc. Nếu không được thế, mà đã vội thưởng đến mức tối hậu, thì vạn nhất khi giặc trở lại và các khanh lại lập công nữa, thì Trẫm còn lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ?”.
Câu nói thật giản dị, nhưng lại thể hiện một tầm nhìn xa, rộng lớn. Trong điều kiện một nước nhỏ như nước ta tồn tại bên một đế quốc hùng cường luôn có tham vọng bành trướng, thì cảnh giác là yêu cầu thường xuyên và thắng lợi dù to lớn đến đâu cũng không bao giờ được thỏa mãn.
“Khoan thư sức dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó mới là thượng sách giữ nước”
Lời di chúc thiêng liêng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn năm 1300 nói với vua Trần Anh Tông khi vua thân đến nhà thăm, mãi mãi sẽ còn là lời răn dạy của vị nhân tướng văn võ song toàn gửi lại cho muôn đời sau.
Chỉ tiếc rằng, chỉ mấy chục năm sau, dưới triều vua Trần Dụ Tông (1341-1369) chính sự đã rối nát, vua ham chơi, lánh xa người trung, sáp gần những kẻ xu nịnh trong hàng ngũ đường quan trong triều, để bọn quyền thần lộng hành, thả sức thao túng, không để ý gì đến dân khiến trăm họ lầm than.
Một mình nhà nho Chu Văn An (1290-1370) người xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì đang giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, vốn là người học rộng lại có tính khí cương trực, đã khảng khái triều kiến Vua, nói lời thẳng thắn can ngăn, nhưng Vua không nghe. Ông viết sớ dâng vua xin chém đầu 7 kẻ quyền thần (người đương thời gọi là Thất trám sớ) đòi trừng trị những kẻ quyền thế đang được vua yêu. Không được chấp nhận, ông trả mũ áo từ quan, về ẩn cư trên núi Chí Linh (Hải Dương) mở lớp dạy học, đào tạo nhân tài cho thế hệ sau. Bản sớ cuối cùng ông gửi đến tay vua khi còn ở Thăng Long đã đi vào sử sách, được ghi nhận là “Thất trảm sớ, nghĩa động càn khôn” (nghĩa là: Tờ sớ đòi chém đầu 7 kẻ lộng thần làm rung động cả đến mặt trời mặt trăng trong vũ trụ).
Cho đến nay, trải qua đã bao nhiêu triều đại, nhưng trong họ ngoài làng, nhân dân biết ơn vẫn đời đời giữ hương khói không bao giờ dứt trong đền thờ ông ở làng Huỳnh Cung, huyện Thanh Trì, nơi đầu tiên ông đã ngồi dạy học và trong hậu cung Quốc Tử Giám, nơi ông đã giữ chức vụ Tế tửu (Giám đốc trường đại học đầu tiên mà nước ta đã có từ triều đại nhà Trần).
Đến cuối thế kỷ XIV, nhà Trần đã hết sức suy yếu, không tự cứu mình được bằng những biện pháp cải cách, để cho Hồ Quý Ly dần dần thâu tóm mọi quyền lực, từng bước loại bỏ thế lực của hàng ngũ quý tộc nhà Trần.
Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây thành An Tôn ở Thanh Hóa; cuối năm đó buộc vua Trần phải dời đô về đấy. Đô thành mới được gọi là Tây Đô, còn thành Thăng Long không còn là kinh đô của đất nước nữa, được đổi tên là Đông Đô.
|
|
|
Di tích thành Tây Đô ở Thanh Hóa - Ảnh tư liệu |
Cuối năm 1406, Vua Minh Thành Tổ (Trung Quốc) phát mấy chục vạn quân sang xâm lược nước ta.
Ngay từ đầu Hồ Quý Ly đã quyết chiến với địch, nhưng giữ quân thế thủ trong một thành không thể là kế hay để giữ cho được lâu dài, nên ngày 21/1/1407, thành Đông Đô thất thủ, nhà Hồ rút về Tây Đô (Thanh Hóa) nhưng sau nửa năm thì chịu thất bại hoàn toàn, bởi những cải cách mới bắt đầu thực hiện của Hồ Quý Ly chưa đủ sức để lấy lại lòng dân trong việc cố kết thành một khối tin theo người lãnh đạo.
Như vậy là đến giai đoạn này, Thăng Long-Đông Đô bị quân xâm lược nước ngoài vào chiếm đóng, không phải chỉ trong 11 ngày như trong cuộc kháng chiến của nhà Trần chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất; hoặc trong 3 tháng như trong cuộc kháng Nguyên lần thứ hai, hoặc trong 32 ngày trong cuộc kháng Nguyên lần thứ 3 dưới sự chỉ huy tài tình của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lần thứ 4 này, với thất bại của Hồ Quý Ly, Thăng Long-Đông Đô đã bị đè dưới gót giặc trong hơn 20 năm mới được giải phóng bởi nghĩa quân Lam Sơn dưới sự thống lĩnh của hai Anh hùng dân tộc Lê Lợi, Nguyễn Trãi.
Đông Đô lúc trở thành sào huyệt của quân xâm lược nhà Minh, đã bị đổi tên là Đông Quan.
Tên gọi Đông Quan tồn tại đến năm 1427, khi Thăng Long-Đông Đô được giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại bang.
Chùa Chân Tiên (ở cuối phố Bà Triệu bây giờ) chính là nơi được chọn làm địa điểm tổ chức Hội Thề - nơi đó, tướng chỉ huy quân Minh là Vương Thông đã đến trước mặt bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn để thề chấm dứt ý chí xâm lược, xin rút quân về đúng trong thời hạn 2 tháng, trả lại toàn vẹn lãnh thổ cho ta.
Kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng bằng giải pháp hòa bình như thế, Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã để lại cho đời sau bài học kinh nghiệm lớn đúc kết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Địch đã sợ chết cầu hòa, ta cũng vì toàn quân là hơn mà để nhân dân nghỉ sức”.

